Blog

Lời mở đầu

Luật Tiêu Chuẩn Lao Động (Employment Standards Act) là cơ sở để giải quyết các mâu thuẩn về lao động và đặt ra quyền lợi căn bản cho nhân công.  Quyển tài liệu này cung cấp một số thông tin cơ bản về quyền lợi  của nhân công.  Luật pháp có thể thay đổi và trường hợp của mỗi cá nhân cũng khác nhau, Bạn nên liên hệ các cơ quan phục vụ trong cộng đồng, cơ quan pháp trợ cộng đồng hoặc luật sư để tư vấn.

Quyển tài liệu này do Trung Tâm Hướng Dẩn Luật Pháp biên soạn, tham khảo theo tài liệu: Luật Employment Standards Act 2000 và Ministry of Labour’s Guide to the Employment Standards Act

Khái quát về Luật Tiêu Chuẩn Lao Động

Luật Tiêu Chuẩn Lao Động định ra những quyền lợi cơ bản đồng nhất  cho nhân công ở Ontario không phân biệt làm việc toàn thời gian, bán thời gian, hợp đồng ngắn hạn hay học sinh.  Tuy nhiên có một số qui luật không áp dụng đồng đều mọi nghành nghề thuộc sự quản chế dưới luật này.    Luật này cũng hoàn toàn không áp dụng cho những ngành thuộc luật Lao Động Liên Bang quản chế như bưu điện, hàng không, vận chuyển liên tỉnh, đường sắt liên tỉnh, hàng hải, ngân hàng, truyền thông v.v

Chủ không được đòi hỏi nhân công ký kết những điều khoản hợp đồng vi phạm qui định của Luật Tiêu Chuẩn Lao Động và những điều khoản vi phạm sẽ tự động vô hiệu.

Theo đề tài

tiền lưong tối thiểu

số giờ làm việc

làm phụ trội

ngày lể công cộng

phép thường niên có lương

hợp đồng về phụ trội và nghĩ phép

phép nghĩ sanh và cha mẹ

phép nghỉ việc khẩn cá nhân

phép nghĩ y tế

bị thôi việc và sa thải

khiếu nại

Sau đây là tổng quát của đạo luật này:

  1. Tiền lương và tip

mức lương tối thiểu

Tiền lương tối thiểu là mức lương thấp nhất pháp định mà chủ phải trả cho nhân công.  Điều lệ này áp dụng cho mọi ngành nghề và tất cả nhân công không phân biệt làm việc toàn thời gian, bán thời gian, theo hợp đồng, tạm thời, trả lương giờ hay tính theo sản phẩm, huê hồng, lương tháng hoặc lương ấn định theo công việc thì tiền lương cơ bản cũng không thể thấp hơn mức lương này.

Bắt đầu từ ngày 1 tháng 10 năm 2020, mức lương tối thiểu sẽ được tăng hoặc điều chỉnh mỗi năm theo tỷ lệ lạm phát. Các mức giá mới sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 sẽ được công bố vào hoặc trước ngày 1 tháng 4 hàng năm, bắt đầu từ năm 2020.

Mức lương tối thiểu hiện hành là:

mức lương tối thiểu Áp dụng từ tháng 1, 2018  đến 30 tháng 9, 2020 Áp dụng từ 1 tháng 10, 2020 đến 30 tháng 9, 2021
công việc thông thường $14 /giờ $14.25
nghành bán rượu $12.20/giờ $12.45
học sinh dưới 18 tuổi $13.15/giờ $13.40
Làm việc tại  tư gia * $15.40/giờ $15.70

* là những người mang việc về nhà làm như trong ngành may mặc, cung cấp phục vụ bằng điện thoại, chế biến thức ăn để bán, biên soạn nhu liệu vi tính mà làm việc ở nhà.

Nếu được lương được trả theo công việc hay sản phẩm, thì mức lương vẩn phải đạt mức lương tối thiểu.

Nếu thay đổi mức lương tối thiểu có hiệu lực giửa kỳ lương của công nhân, thì mức lương phải được tính theo ngày hiệu lực áp dụng cho thời gian tương ứng theo mức lương pháp định cho thời kỳ đó.

Để truy cập mức lương tối thiểu hiện hành, xin viếng trang mạng Bộ Lao Động ở: https://www.ontario.ca/document/your-guide-employment-standards-act-0/minimum-wage

Tiền tip hay tiền boa

Đây là số tiền mà khách hàng tự nguyện để lại để tặng thưởng cho cá nhân nhân viên phục vụ hay được chia ra trong nhóm người phục vụ.

Chủ lao động bị cấm giữ lại hoặc khấu trừ từ tiền tip hay boa của nhân công,  chủ cũng không thể yêu cầu nhân viên trả lại hoặc chia tiền boa hoặc tiền tip, nếu tình trạng này xảy ra, chủ được xem như nợ lương.   Nhân công có thể tự giử hết tiền tip của mình nhưng nếu nơi làm việc có chính sách chia đều quỷ  tiền tip, thì nhân công sẽ phải bỏ số tiền tip nhận được vào quỷ công để được chia đều.  Chủ chỉ có thể chia tiền tip họ tự kiếm được và chỉ được chia tiền tip nếu công việc của họ cũng cung cấp phục vụ ở mức độ đáng kể tương tự như nhân công.

2. Qui định về số giờ làm việc

Số giờ làm việc pháp định tối đa cho một tuần là 48 giờ, một ngày là 8 giờ. Chủ và nhân công có thể tự thương lượng và ký hợp đồng về số giờ làm việc đến mức tối đa là 60 giờ một tuần.  Nếu giờ làm việc hơn 60 gìờ một tuần thì chủ phải xin giấy phép của Bộ Lao Động.

Nhân công có quyền đơn phương hủy hợp đồng về số gìờ làm việc nhưng phải báo trước 2 tuần cho chủ.  Nhưng nếu hợp đồng này được ký lúc bắt đầu mướn làm việc và có sự chấp thuận của Bộ Lao Động, thì hợp đồng sẽ không thể đơn phương hủy bỏ.

Điều lệ này không áp dụng cho các ngành nghề như cứu hỏa, kiến trúc, đánh cá, săn bắn, làm việc tại tư gia, quản lý chúng cư, nhà quàn, nông trại, gặt hái, quản gia, địa ốc, buôn bán lưu động, làm vườn, quản lý hồ bơi và các chức vụ cai quản.

Giờ nghĩ giải lao

Qui định này áp dụng cho mọi ngành nghề, pháp định sau mỗi 5 giờ làm việc liên tục, nhân công sẽ được nghĩ 30 phút không lương để ăn uống.  Chủ có thể qui định cho thêm giờ giải lao nhưng nếu nhân công được yêu cầu phải ở lại nơi làm việc trong thời gian nghỉ lao ngoài giờ ăn sẽ được trả ít nhất là mức lương tối thiểu cho thời gian nghỉ lao. Nếu nhân công được tự do rời khỏi nơi làm việc lúc nghĩ giải lao thì chủ có thể cho nghĩ giải lao không lương.

Giờ nghĩ giải lao dù có lương hay không lương đều không thể dùng để tính giờ phụ trội.

Qui định 3 giờ làm việc tối thiểu

Nếu nhân công đi làm ca bình thường nhưng làm chưa đủ 3 giờ thì bị cho về sớm, chủ phải trã mức cao nhất giữa :

  •  3 giờ lương tối thiểu hay
  • tiền lương bình thường cho số giờ đã làm

qui định này không áp dụng cho trường hợp:

  • học sinh (kể cả trên 18 tuổi)
  • công việc có ca làm việc ít hơn 3 giờ
  • lý do cho nghĩ sớm là do vấn đề đột xuất xảy ra ngoài ý muốn của chủ như cúp điện

thời gian nghĩ ngơi

Trong hầu hết các trường hợp, nhân công phải được cho nghĩ ngơi ít nhất 11 giờ sau mổi ca làm liên tục mỗi ngày.  Qui định bắt buộc này không được thay thế bằng thỏa thuận văn bản giữa chủ và nhân công.

Nhân viên phải được nghĩ ít nhất 8 giờ cách ca.   Nhưng điều này không áp dụng nếu tổng thời gian làm việc của hai ca cộng lại không quá 13 giờ thì chủ và nhân công có thể lập thỏa thuận bằng văn bản đồng ý cho nhân công được nghĩ  ít hơn 8 giờ giữa 2 ca làm việc.

3. giờ làm phụ trội

Áp dụng cho đa số nghành nghề, giờ phụ trội bắt đầu tính sau 44 giờ làm việc trong một tuần.  Nhân công sẽ được trả lương phụ trội gấp rưởi tiền lương bình thường cho số giờ làm trên 44 giờ.  Nhân công làm việc trả lương theo sản phẩm vẩn có quyền lợi này. Tiền lương phụ trội trong trường hợp này cũng không thể thấp hơn 1.5 lần tiền lương bình thường. mức lương phụ trội cũng áp dụng cho trường hợp được trả lương tuần mà không tính theo giờ.

Ví dụ cách tính tiền phụ trội 1

tiền lương thường của Thu là $18/giờ, Thu làm 53 giờ trong tuần.

  • đầu tiên phải tính mức lương giờ cho phụ trội: $18 X 1.5 = $27 cho mổi giờ
  • sau đó tính số giờ phụ trội: 53 – 44 = 9 tiếng phụ trội
  • tiền lương phụ trội là: 9 giờ X $27 = $243
  • tiền lương tuần sẽ là:

 lương thường: $792 (44 giờ x $18) + $243 = $1035

Ví dụ cách tính tiền lương làm phụ trội 2

lương tuần của Thanh là $700 và làm 50 giờ/tuần.  cách tính lương sẽ như sau:

  • tính mức lương giờ thường: mức lương tuần ấn định là $700 : 44 giờ = $15.91/lương thường cho mổi giờ
  • tính mức lương giờ cho phụ trội: $15.91 X 1.5= $23.87 cho mổi giờ
  • sau đó tính số giờ phụ trội: 50 – 44 = 6 tiếng phụ trội
  • tiền lương phụ trội là: 6 giờ X $23.87 = $143.22
  • tiền lương tuần phải là:

  lương thường: $700 (44 giờ ) + $143.22 = $843.22

Nếu có sự đồng ý giửa chủ và nhân công, giờ phụ trội có thể được nghĩ bù có lương thay vì được trả tiền lương phụ trội, nhưng mổi giờ phụ trội sẽ được nghĩ bù một tiếng rưởi.  Sự nghĩ bù phải áp dụng trong vòng 3 tháng từ ngày làm phụ trội hoặc nếu có sự đồng ý trên mặt giấy tờ, nghĩ bù có thể kéo dài trong vòng một năm.

Luật pháp cho phép chủ và nhân công thương lượng và ký hợp đồng về cách tính cho giờ làm việc phụ trội, thay vì tính theo mỗi tuần thì có thể quân bình trong vòng hai tuần hoặc dài hơn.

Hợp đồng loại này phải được sự chấp thuận của Bộ Lao Động.  Nếu áp dụng phương pháp quân bình số giờ đã làm thì nhân công chỉ được trả lương phụ trội cho số giờ làm hơn số giờ quân bình 44 giờ của khoảng thời gian tính quân bình. Cho ví dụ, nếu thoả thuận tính giờ phụ trội quân bình trong thời hạn mổi 4 tuần lể:  nếu tuần thứ nhất nhân công làm 50 giờ, tuần thứ hai làm 50 giờ, tuần thứ ba làm 38 giờ và tuần thứ tư làm 38 giờ, tổng số giờ đã làm trong 4 tuần là 176 tiếng chia cho 4, thì số giờ bình quân mỗi tuần sẽ là 44 tiếng, do đó nhân công sẽ không được trả lương phụ trội cho dù có tuần đã làm hơn 44 giờ/tuần.  Hợp đồng quân bình số gìờ làm việc đòi hỏi phải có thời hạn hiệu lực và không được dài hơn 2 năm.

Điều lệ này không áp dụng cho các ngành nghề:  cứu hỏa, cấp cứu, đánh cá, săn bắn, làm việc tại tư gia, quản lý chúng cư, nông trại, tài xế xe taxi, gặt hái, quản gia, địa ốc, buôn bán lưu động, làm vườn, quản lý hồ bơi, các chức vụ cai quản, khu du lịch, trại hè, học sinh làm việc cho cơ quan từ thiện.

ngày lễ công cộng

Tỉnh Ontario mỗi năm có 9 ngày lễ công cộng, đó là:

  • Tết dương lịch (New year’s Day)
  • ngày gia đình (Family Day)
  • Lễ Phục Sinh(Good Friday)
  • Ngày Chiến Thắng (Victoria Day)
  • Lễ Quốc Khánh (Canada Day)
  • Lễ Lao Động (Labour Day)
  • Lễ Cảm Tạ (Thanksgiving Day)
  • Lễ Giáng Sinh (Christmas)
  • Ngày Tiết Lễ (Boxing day – ngày kế Giáng Sinh

Nhân công có quyền nghĩ ngày lễ công cộng có lương.  Cách tính mức lương cho ngày lễ công cộng là dùng tổng số tiền lương thường trong 4 tuần trước ngày lễ chia cho 20.  Tiền lương thường trong 4 tuần bao gồm tiền phép thường niên nhưng không tính tiền lương phụ trội.

Ví Dụ Cách Tính tiền lương lể công cộng

Ví dụ 1:nếu quý vị làm 5 ngày một tuần, với mức lương $100 một ngày, cách tính sẽ là:

  • Lương ngày = $100 x 5 ngày = $500, tổng số tiền lương cho 4 tuần là

$500/tuần x 4 tuần = $2000

  • $2000 chia cho 20 = $100 (tiền lương cho ngày lễ)

 

Ví dụ 2:

nếu quý vị làm 5 ngày một tuần, với mức lương $100 một ngày, quý vị nghĩ 2 tuần phép thường niên trong thời hạn 4 tuần và nhận được $1000 tiền phép thường niên, cách tính sẽ là:

  • Tiền lương cho 10 ngày đi làm trong 4 tuần = $100 x 10 ngày  = $1000
  • cộng với $1000 tiền phép thường niên lãnh trong 4 tuần này, tổng số lương cho 4 tuần là $2000 ($1000 + $1000)
  • tiền lương cho ngày lễ là $2000 chia cho 20 = $100

Nếu ngày lễ nhằm ngày nghĩ của nhân công, nhân công sẽ được lãnh thêm tiền lương cho ngày lễ hoặc được nghĩ bù thêm một ngày.

Nếu nhân công làm việc trong ngày lễ thì sẽ có thể chọn một trong hai trường hợp sau đây:

  1. được trả lương bình thường cho số giờ làm việc trong ngày lễ và được nghĩ bù thêm một ngày có lương cho ngày lễ hoặc
  2. không được nghĩ bù nhưng tiền lương cho số giờ làm việc trong ngày lễ là một gấp rưởi tiền lương bình thường và được trả thêm một ngày lương cho ngày lễ

Ngày nghĩ bù phải được nghĩ trong vòng 3 tháng sau ngày lể, nhưng nếu có sự đồng ý giữa chủ và nhân công thì có thể kéo dài đến một năm để nghĩ bù.

Nhân công sẽ mất quyền hưỡng cho ngày lễ trong những trường hợp sau đây:

  • Nếu ngày trước và ngày sau của ngày lễ là ngày làm việc của nhân công, nhưng nhân công không có lý do chính đáng mà vắng mặt hay tự ý bỏ về sớm trong những ngày này (nếu ngày lễ nằm trong thời gian nhân công đang nghĩ phép thường niên, thì ngày trước và ngày sau ngày lễ sẽ là ngày cuối trước ngày bắt đầu nghĩ phép và ngày phải trở lại đi làm.
  • ngày lễ là ngày đi làm bình thường, nhưng nhân công không có lý do chính đáng bỏ về sớm
  • nhân công đồng ý làm việc trong ngày lễ nhưng không có lý do chính đáng mà vắng mặt
  • nếu nhân công đã đồng ý làm việc trong ngày lễ nhưng thay đổi ý kiến thì phải báo cho chủ trước 48 tiếng.

Lý do vắng mặt chính đáng là chỉ những trường hợp ngoài ý muốn của mình như đau ốm, bị thương, bản thân và gia đình có việc khẩn cấp  v.v.  Nhân công có trách nhiệm chứng minh mình có lý do chính đáng không thể đi làm.

Điều lệ này không áp dụng cho các ngành nghề cứu hỏa, nông trại, đánh cá, săn bắn, quản lý chúng cư, làm vườn, tài xế xe taxi, địa ốc, quản lý hồ bơi, buôn bán lưu động, nhà trọ theo mùa, các trại hè, khu giải trí, học sinh làm việc tại hoặc cơ quan từ thiện và nhân công ngành kiến trúc mà được trả lương cho ngày lễ công cộng tương đương với 7.3% tiền lương thường.

5. phép nghĩ thường niên có lương

Thời gian nghỉ phép thường niên có lương sẽ  phụ thuộc vào thời gian nhân viên làm việc cho một chủ.

Nhân viên làm việc với một chủ lao động dưới 5 năm sẽ được hưỡng  2 tuần nghĩ có lương cho mỗi năm làm việc cho chủ.   Nhân viên có thâm niên làm việc cho một chủ hơn 5 năm được nghĩ 3 tuần cho mỗi năm làm việc cho chủ.

Thông thường,  quyền nghỉ phép bắt đầu sau thời gian đủ tư cách tức là 12 tháng bắt đầu  từ ngày tuyển dụng. Trường hợp chủ thiết lập một ngày định kỳ nghĩ  phép thường niên khác với ngày tuyển dụng của nhân công, thì nhân công vẩn được tích lũy ngày nghĩ thường niên tính theo tỷ lệ số ngày làm việc từ ngày tuyển dụng đến ngày định kỳ nghĩ phép bắt đầu  (được gọi là giai đoạn chuyển tiếp).

Phép nghĩ thường niên có lương trong niên khóa định kỳ hay giai đoạn chuyển tiếp sẽ tiếp tục tích lũy không gián đoạn trong giai đoạn nhân công phải tạm nghĩ việc vì:

  • bị sa thải tạm thời
  • ốm đau hay bị thương
  • nghĩ tất cả các loại phép pháp định bao gồm phéo nghĩ sinh sản, làm cha mẹ, xử lý khẩn cấp, chăm sóc thân nhân có bệnh, y tế gia đình, làm người hiến tạng nội tạng, thi hành nghĩa vụ, nạn nhân  bạo lực gia đình hoặc tình dục, con cái qua đời hoặc mất tích liên quan đến tội phạm v.v
  • bất kỳ phép được chấp thuận khác (nghĩa là không có sự cắt đứt trong mối quan hệ tuyển dụng).

Thời gian nghỉ có lương thường niên  phải được sử dụng trong vòng 10 tháng sau khi nhân công đủ điều kiện được nghĩ. Sắp xếp thời gian nghỉ được thỏa thuận giữa nhân công  và chủ lao động, và thường kéo dài 1 hoặc 2 tuần.  Chủ và nhân công có thể thỏa thuận bằng văn bản cho phép phép nghĩ thường niên có chia thành các khoảng thời gian ngắn hơn 1 tuần để nghĩ.

Tiền phép thường niên

Tiền lương nghỉ phép thường niên cho nhân công làm việc cho một chủ lao động dưới 5 năm thì tiền phép thường niên là ít nhất 4% tổng tiền lương trước thuế  kiếm được trong 1 năm trước kỳ nghỉ và trong giai đoạn chuyển tiếp (nếu có).

Nếu làm việc cho một chủ hơn 5 năm trở lên, tiền lương nghỉ phép là ít nhất 6% tiền lương trước thuế kiếm được trong 1 năm trước kỳ nghỉ và trong giai đoạn chuyển tiếp (nếu có).

Tổng tiền lương năm chưa trừ thuế dùng để tính tiền phép thường niên không bao gồm tiền phép thường niên đã và chưa trả trong năm, tiền tip hay tiền boa thưởng,  tiền phụ cấp vận chuyển  , tiền thưởng không liên quan đến số giờ đi làm, phụ cấp giao thông, bồi thường sa thải).

Nguyên tắc chung là chủ lao động phải trả tiền nghỉ phép trong kỳ nghỉ của nhân công. Nhưng chủ  cũng có thể trả tiền phép vào mỗi kỳ lương, và như vậy thì khi nhân công nghĩ phép sẽ không có lương vì đã được trả ứng trước.

Khi việc làm kết thúc, chủ phải thanh toán tiền phép thường niên còn nợ chưa thanh toán. Tiền phép thường niên cũng phải trả trên mức tiền thay vì thông báo thôi việc nhưng không phải trả cho mức tiền sa thải.   Nhân công nghĩ phép pháp định sẽ không mất quyền nghĩ phép. Nếu nhân công đang nghĩ phép không lương có quyền hoãn nghỉ phép thường niên cho đến khi trở lại đi làm  (hoặc cho đến một ngày thỏa thuận giữa chủ và nhân viên đồng ý).

Điều lệ phép thường niên không áp dụng cho các ngành nghề địa ốc, nông trại, buôn bán lưu động, đánh cá.

6.  ký kết hợp đồng

Luật Tiêu Chuẩn Lao Động  cho phép chủ và nhân công thỏa thuận những điều khoản lao động thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu pháp định bằng cách thỏa thuận ký kết hợp đồng. Hợp đồng phải bằng văn bản có ký tên của 2 bên.những hợp đồng bằng miệng sẽ không có hiệu lực trên luật pháp. Đây là những phạm vi hai bên có thể thương thảo về :

 Số giờ làm việc:

Chủ và nhân công có thể ký hợp đồng thỏa thuận cho số giờ làm việc hơn 8 giờ một ngày hoặc 48 giờ một tuần và tối đa là 60 giờ một tuần. Các hợp đồng thỏa thuận này chỉ có hiệu lực nếu chủ cung cấp cho nhân công ấn bản thông tin mới nhất của Bộ Lao Đồng về qui định  giờ làm việc và quy tắc trả lương ngoài giờ lương trước khi ký.

Trong hầu hết các trường hợp, Nhân công có quyền đơn phương hủy hợp đồng làm quá giờ bằng cách thông báo bằng thư hay điện thư  trước 2 tuần cho chủ.   chủ lao động cũng có thể hủy thỏa thuận bằng cách thông báo hợp lý cho nhân viên. Sau khi thỏa thuận bị hủy bỏ, nhân công sẽ không phải làm việc quá giờ cho dù chủ được sự chấp thuận của Bộ Lao Động cho phép làm số giờ vượt hơn mức pháp định.

Cách tính giờ phụ trội:

Chủ và nhân công có thể ký hợp đồng cho cách tính giờ phụ trội trong thời hạn dài hơn 2 tuần thay vì một tuần. Hợp đồng tính phụ trội không thể đơn phương hủy bỏ. Hợp đồng bắt buộc phải có thời gian hiệu lực không thể dài hơn 2 năm. Hợp đồng có thể gia hạn sau khi mãn hạn.

Thời gian nghĩ phép thường niên

Chủ và nhân công có thể thương lượng thời gian nghĩ phép và phép nghĩ có thể chia ra ngắn hơn một tuần để nghĩ.

Tất cả các loại hợp đồng nêu trên sẽ mất hiệu lực nếu:

  • Nhân công bị ép buộc ký hợp đồng mà không phải tự nguyện
  • hợp đồng không có chữ ký của hai bên
  • các chi tiết trong hợp đồng không rỏ ràng, mờ ám
  • nhân công không hiểu được hậu quả khi ký hợp đồng

Đồng thời, thời gian hiệu lực phải áp dụng cho tương lai nhưng không thể đi ngược lại về trước.

Nếu nhân công bị chủ trả thù, như bị sa thải vì không chịu ký hợp đồng là trái luật, nhân công có quyền kiện đến Bộ Lao Động.  Nếu nhân công bị sa thải vì tranh giành quyền lợi của mình,  Bộ Lao Động có quyền buộc chủ mướn lại và bồi thường thiệt hại lương bổng.

 7. Các phép nghĩ có và không lương

Hầu hết các loại phép nghĩ ngắn và dài hạn theo luật qui định dưới đây đa số đều là phép nghĩ không lương giữ việc.  Có nhiều loại phép nghĩ cho từng trường hợp và điều kiện hưỡng khác nhau như phép nghĩ chăm sóc thân nhân có bệnh, nghĩ đau ốm hay bị thương, phép nghĩ trách nhiệm gia đình, mất người thân, bệnh hiểm nghèo, nạn nhân  bạo lực gia đình hoặc tình dục, con qua đời hay mất tích liên quan đến tội phạm v.v.

Nhân công có quyền được hưỡng nhiều loại phép nghĩ cho cùng một sự kiện nếu hội đủ điều kiện.

Trong thời gian nhân công nghĩ tất cả các loại phép pháp định thì  chủ phải tiếp tục cung cấp tất cả phúc lợi của công ty cho nhân công.  Thời gian nghĩ phép cũng được tính vào thâm niên tích lũy làm việc cho công ty.  chủ phải phục hồi chức vụ khi nhân công trở lại làm việc hay cố gắng an bài một công việc tương tự với mức lương tương đương hay cao hơn.  Đồng thời, nếu có tăng lương trong thời gian nhân công nghĩ thì lương của nhân công sẽ được điều chỉnh gia tăng khi trở lại làm việc.

Các loại phép nghĩ không lương ngắn hạn

Tất cả nhân viên toàn thời gian, bán thời gian, thường trực hoặc hợp đồng làm tạm đã làm việc cho một chủ ít nhất hai tuần liên tiếp được hưỡng 3 loại phép nghĩ không lương ngắn hạn  mỗi năm theo lịch,  đó là phép nghĩ bệnh, nghĩ tang cho thân nhân  và trách nhiệm gia đình.

Những loại phép này không dùng trong năm sẽ không được mang sang năm tới.  phép nghĩ không cần phải dùng liên tục mà có thể chia ra nghĩ,  nhưng được tính theo đơn vị từng ngày nên dù nghĩ nửa ngày cũng tính một ngày.

Nghĩ bệnh:

Nhân công được nghỉ tối đa 3 ngày không lương  mỗi năm theo lịch do mình bị bệnh hay bị thương hoặc lý do y tế như khám bệnh hay trị liệu.

Nhân công bất kể lúc nào bắt đầu làm việc cho chủ, chỉ cần làm đủ 2 tuần cho chủ sẽ có phép nghĩ bệnh cho mỗi năm theo lịch (tức là đầu năm đến cuối năm). Do đó, nếu nhân công bắt đầu làm việc ở gần cuối năm vẩn có thể nghĩ 3 ngày trong phần còn lại của năm đó.

Nghĩ tang thân nhân

Nhân công được nghĩ 2 ngày không lương mỗi năm theo lịch để lo tang lễ của thân nhân cụ thể.

Nghĩ tang có thể bắt đầu từ ngày thân nhân qua đời hay để tham dự tang lễ hoặc lo liệu vấn đề liên quan đến di sản.

Phép nghỉ trách nhiệm gia đình

Nhân công có 3 ngày nghĩ trách nhiệm gia đình không lương mỗi năm theo lịch để lo cho thân nhân cụ thể bị bệnh hay bị thương, vì lý do y tế hoặc xử lý các vấn đề khẩn cấp đột xuất cần xử lý để tránh hậu quả tiêu cực hay nghiêm trọng.

Nghỉ phép ngắn hạn cho thân nhân cụ thể là:

  • vợ / chồng kết hôn hay sống chung, đồng tính hay khác tính
  • cha hay mẹ ruột, kế hay nuôi của nhân công hay vợ hoặc chồng của nhân công
  • con ruột hay kế, con riêng hay nuôi, con rể hay dâu của nhân công hay vợ hoặc  chồng của nhân công
  • ông bà nội ngoại ruột hay kế của nhân công hay vợ chồng của nhân công
  • cô cậu dì dượng chú bác mợ, cháu trai gái, nội ngoại của nhân công hoặc vợ / chồng của nhân công
  • anh chị em ruột, kế hay nuôi của nhân công hay vợ chồng của nhân công
  • một người phụ thuộc vào nhân công để chăm sóc

Nhân viên phải cố gắng báo trước  cho chủ khi nghĩ phép, chỉ cần báo bằng miệng mà không cần báo bằng văn bản.

Chủ có quyền yêu cầu nhân công cung cấp bằng chứng hợp lý cho phép nghĩ ngắn hạn.   chủ chỉ có thể đòi hỏi thông tin hợp lý nhưng có giới hạn, ví dụ như chủ không được đòi giấy bác sĩ, hồ sơ bệnh lý, thông tin về chẩn đoán hoặc điều trị tình trạng y tế của nhân công hay thân nhân khi họ xin nghĩ bệnh hoặc chăm sóc thân nhân bị bệnh.  Bằng chứng hợp lý nghĩ tang có thể là giấy khai tử, báo tử hay cáo phó.

Qui định cho phép nghĩ ngắn hạn không áp dụng đồng đều cho mọi nghành nghề.

Các loại phép nghĩ dài hạn

Phép nghĩ trốn khỏi bạo lực gia đình hoặc tình dục

Tất cả nhân viên đã làm việc cho chủ nhất 13 tuần liên tiếp được nghỉ phép này.  Có 2 thời gian nghĩ cho nạn nhân bạo lực gia đình hoặc tình dục cho mỗi năm theo lịch:

  • mỗi năm tối đa 10 ngày (5 ngày có lương và 5 ngày không lương) và cộng thêm
  • 15 tuần phép nghĩ không lương mỗi năm theo lịch để xử lý vấn đề liên hệ đến nhân công hay con cái của mình là nạn nhân bạo lực gia đình hoặc tình dục.

5 ngày nghỉ phép đầu tiên trong năm theo lịch có lương và 5 ngày sau không lương,  sau đó thì sẽ là nghĩ phép không lương theo tuần.

Con có nghĩa là con ruột, con riêng, con ghẻ hay con nuôi dưới 18 tuổi của nhân công hoặc đứa trẻ dưới 18 tuổi mà nhân công là người giám hộ hợp pháp.

Phép nghỉ  có thể dùng vào các mục đích như:

  • để trị liệu thương tích do bạo lực gây ra
  • để truy cập trợ giúp từ các dịch vụ cho nạn nhân bạo lực
  • Tiếp nhận tư vấn tâm lý hoặc chuyên nghiệp khác
  • Để dọn nhà tạm thời hoặc vĩnh viễn
  • Làm việc với cảnh sát hoặc hệ thống pháp lý cho vấn đề bạo lực.

Thời gian nghĩ 10 ngày và 15 tuần có thể được thực hiện riêng ra hoặc liên tiếp. Phép nghĩ theo ngày và tuần sẽ được tính theo đơn vị ngày hoặc tuần.  Nếu nhân công nghĩ ngày phép nhưng không nghĩ trọn ngày sẽ được tính cả ngày và khi nghĩ  phép tuần nhưng không nghĩ trọn tuần thì vẫn được tính nghĩ cả tuần.

Nhân công phải cố gắng báo trước cho chủ càng sớm càng tốt có thể trước khi nghĩ,  nhưng đây không phải là yêu cầu tuyệt đối.  Nhân công sẽ không bị mất quyền nghỉ phép vì không thông báo kịp thời.  chủ có quyền yêu cầu nhân công cung cấp bằng chứng cho phép nghĩ tuỳ theo từng hoàn cảnh.  Bằng chứng cho nghĩ phép này có thể là biên bản của cảnh sát, tài liệu tòa án và thư từ của chuyên gia y tế hoặc một cố vấn tâm lý.

phép nghĩ thai sản và cha mẹ

Nhân công làm việc toàn thời gian, bán thời gian, thường trực hoặc theo hợp đồng và đã làm liên tục 13 tuần cho một chủ sẽ được hưỡng phép nghĩ sanh và phép làm cha mẹ không lương.  Nhân công không bắt buộc phải đi làm đủ 13 tuần mà chỉ cần được tuyển dụng đủ 13 tuần trước ngày bắt đầu nghĩ.

Phép nghĩ thai sản

Nhân công mang thai có thể được nghĩ tối đa 17 tuần để sinh con.  Nghỉ thai sản có thể bắt đầu sớm nhất là 17 tuần trước ngày dự trù sinh hoặc muộn nhất là ngày đứa trẻ ra đời. Nhân công có quyền quyết định lúc nào bắt đầu nghĩ phép, nhưng phải báo trước cho chủ 2 tuần lễ trước khi nghĩ.  Chủ có quyền đòi giấy bác sĩ để chứng minh ngày dự trù đi sanh.  Chủ không thể viện cớ vì lý do sức khỏe do thai nghén ảnh hưỡng đến công việc mà đặt ra những hạn chế trong công việc của nhân công hay ép họ nghĩ phép sớm.

Nghĩ thai sản tối đa là 17 tuần, nếu nhân công đã nghĩ hết 17 tuần nhưng vẫn chưa sinh, thì có thể tiếp tục nghĩ đến ngày sinh rồi bắt đầu nghĩ phép nghĩ cha mẹ sau khi sinh. Nhân công có quyền rút ngắn thời gian nghĩ phép. Phép nghĩ thai sản phải nghĩ liên tục đến hết mà không được đứt đoạn.

Nhân công bị sẩy thai hoặc thai chết non trong thời gian  17 tuần trước ngày dự trù sanh sẽ không được nghỉ phép thai sản.

Nếu sảy thai hoặc thai chết xảy ra trong thời kỳ  17 tuần trước ngày dự trù sanh thì sẽ đủ điều kiện được nghĩ ít nhất 17 tuần thai sản không lương, phép nghĩ kết thúc vào ngày muộn nhất của:

  • 17 tuần sau khi nghỉ phép bắt đầu; hoặc là
  • 6 tuần sau khi thai chết hoặc sảy thai.

như vậy thì  này thì nhân công sẽ được nghĩ ít nhất 17 tuần hoặc có thể dài hơn.

Yêu cầu thông báo nghĩ phép thai sản

Nhân công phải đưa thông báo  ít nhất 2 tuần cho chủ trước khi bắt đầu nghĩ phép thai sản.

Thay đổi ngày bắt đầu nghĩ thai sản

Nhân công có quyền đổi ngày bắt đầu nghỉ sớm hơn hay trể hơn bằng cách đưa cho chủ thông báo bằng văn bản ít nhất hai tuần trước ngày dự trù nghĩ mới.

Phép nghĩ cha mẹ

Phép nghĩ cha mẹ là phép nghĩ không lương dành cho các nhân công mới làm cha mẹ. Nhân công phải làm việc cho một chủ đủ 13 tuần trước ngày nghĩ phép mới đủ điều kiện.

Nghỉ phép cha mẹ không phải là một phần của phép nghĩ thai sản, vì vậy một người mẹ sinh con có thể nghĩ cả 2 phép nghĩ thai sản và cha mẹ khi sinh con.  Phép nghĩ cha mẹ là độc lập với nghĩ  thai sản,  do đó, cha và mẹ đều có quyền nghĩ loại phép này,  người cha có con mới sinh có thể được nghỉ phép cha mẹ cùng lúc với người mẹ sinh con đang nghĩ thai sản.

Làm cha mẹ tức là:

  • Chăm sóc cho con mới sinh
  • có con mới xin nuôi hợp pháp (dù thủ tục xin nuôi chưa hoàn tất xong)
  • chăm sóc cho đứa trẻ mà mình lãnh trách nhiệm giám hộ chăm sóc dài hạn hay sẽ nuôi đứa trẻ như con mình (áp dụng cho cả các trường hợp cha mẹ đồng phái tính)

Yêu cầu thông báo nghỉ phép của cha mẹ

Nhân công  phải cung cấp thông báo bằng văn bản cho chủ ít nhất 2 tuần  trước khi bắt đầu nghỉ phép của cha mẹ.

Sau khi nhân công nghĩ xong phép thai sản thì có quyền tiếp tục nghĩ phép cha mẹ. Nhân công cũng có thể trở lại đi làm rồi chờ đến khi cần chăm sóc cho đứa trẻ mới bắt đầu nghĩ phép cha mẹ ( ví dụ như đứa trẻ còn nằm bệnh viện một khoảng thời gian). Một khi hội đủ điều kiện, phép nghĩ cha mẹ phải bắt đầu nghĩ hết trước thời hạn 78 tuần từ ngày đứa trẻ ra đời hoặc ngày bắt đầu chăm sóc cho đứa trẻ.

Nhân công đã nghĩ xong phép sanh có quyền nghĩ thêm 61 tuần phép nghĩ cha mẹ.  Nhân công không nghĩ phép sanh có quyền nghĩ 63 tuần phép nghĩ cha mẹ và có quyền rút ngắn thời gian nghĩ nếu muốn nhưng phải báo trước 2 tuần cho chủ.  Phép nghĩ cha mẹ phải nghĩ liên tục đến hết mà không được đứt đoạn.

Trong thời gian nhân công nghĩ phép sanh và cha mẹ, Chủ phải tiếp tục duy trì tất cả các phúc lợi và thâm niên cho họ trong thời gian nghĩ phép và phải cố gắng cho nhân công trở lại làm chức vụ củ hoặc tương đương nhưng không được giảm tiền lương.

Phép nghĩ sanh và cha mẹ đều là phép nghĩ không lương. Nếu hội đủ điều kiện thì có thể liên lạc Bộ Dịch Vụ Canada để xin tiền sanh và tiền trợ cấp cha mẹ thuộc chương trình tiền bảo hiểm công việc của liên bang.

Các quy tắc về quyền nghỉ  thai sản và cha mẹ theo luật Tiêu Chuẩn Lao Động(ESA) rất  khác với các quy định tiêu chuẩn xin lãnh tiền trợ cấp thai sản và cha mẹ theo Đạo luật Bảo hiểm Việc Làm của Liên bang.  Do đó, nhân công làm cha mới nếu đủ tiêu chuẩn được  có quyền huỡng 78 tuần phép nghĩ của cha mẹ theo ESA nhưng chưa chắc sẽ đủ tiêu chuẩn được lãnh tiền sanh và trợ cấp cha mẹ,  do đó, nhân công nên tìm hiểu các thông tin về quyền lợi lãnh tiền EI của mình khi quyết định nghĩ phép.  Để biết thông tin về các phúc lợi thai sản và cha mẹ, hãy liên hệ với Dịch vụ Canada ở số 1-800-206-7218.

Phép nghĩ y tế gia đình

Tất cả nhân công làm việc toàn thời gian, bán thời gian, thường trực hay theo hợp đồng  trong mọi nghành nghề, bất kể thời gian làm việc cho chủ bao lâu đều được hưởng tới 28 tuần nghỉ phép y tế gia đình không lương cho mỗi chu kỳ  52 tuần để chăm sóc cho thân nhân có trọng bệnh với nguy cơ tử vong trong 6 tháng tức 26 tuần. Thân nhân phải có giấy bác sĩ chứng minh có bệnh trầm trọng và có nguy cơ qua đời trong vòng 26 tuần.

Thân nhân không nhất thiết phải sống ở Ontario để nhân công đủ điều kiện được nghỉ phép y tế gia đình.

Thân nhân của nhân công bao gồm:

  • vợ hay chồng hôn phối hoặc sống chung trên một năm của mình, đồng tính hay khác tính
  • cha mẹ ruột, cha mẹ ghẻ và nuôi của mình và của người phối ngẩu,
  • con ruột, dâu và rể, con ghẻ và con nuôi của mình và của người phối ngẩu
  • anh chị em ruột, kế, nuôi hay ghẻ của mình và của người phối ngẩu
  • con cháu, cô, dì ,dượng,cậu, chú, bác của mình và của người phối ngẩu
  • ông bà nội ngoại của mình và của người phối ngẩu
  • hoặc bất cứ người nào mà nhân công xem như người nhà của mình

28 tuần phép nghĩ này không nhất thiết phải dùng hết một lần, nó có thể được chia ra để nghĩ trong thời điểm khác nhau, số tuần tối đa phải nghĩ trong thời hạn 26 tuần. Thời hạn 26 tuần bắt đầu từ ngày giấy bác sĩ cấp.  Phép nghĩ được tính theo tuần (từ chủ nhật đến thứ bảy), dù quý vị chỉ nghĩ vài ngày nhưng vẫn được tính như đã nghĩ một tuần phép.

Nếu nhân công có hơn một thân nhân  chỉ định đủ tiêu chuần mắc bệnh hiểm nghèo có nguy cơ tử vong trong  26 tuần, thì nhân công  sẽ được nghỉ phép y tế gia đình tối đa  28 tuần cho mỗi thân nhân chỉ định.

Thời gian nghỉ y tế gia đình 28 tuần kết thúc khi:

  • ngày cuối cùng của tuần mà người thân nhân qua đời
  • thời hạn 52 tuần hết hạn
  • đã nghĩ hết 28 tuần.

Nhân công nếu  đủ tiêu chuẩn cũng có thể xin 26 tuần tiền trợ cấp chăm sóc thân nhân có trọng bệnh từ chương trình bảo hiểm việc làm-EI  để chăm sóc cho thân nhân có trọng bệnh với nguy cơ qua đời trong 6 tháng.

Phép nghĩ  chăm sóc gia đình

Tất cả mọi nhân công làm việc toàn thời gian, bán thời gian, thường trực hoặc hợp đồng đều có quyền nghĩ tối đa 8 tuần không lương  mỗi năm theo lịch để chăm sóc hoặc hỗ trợ cho một số thân nhân có giấy bác sĩ chứng minh họ có trọng bệnh nhưng không nhất thiết có nguy cơ tử vong trong vòng 26 tuần.

Thân nhân chỉ định  bao gồm:

  • vợ hay chồng hôn phối hoặc sống chung trên một năm của nhân công, đồng tính hay khác tính
  • ông bà ruột hay ghẻ, cha mẹ ruột hay ghẻ và nuôi của nhân công hay  của người phối ngẩu,
  • con ruột, con nuôi, con ghẻ của nhân công hay của người phối ngẩu
  • cháu nội ngoại ruột hay ghẻ, cháu trai hay gái  của nhân công  hay của người phối ngẩu
  •  anh chị em ruột hay ghẻ, dâu hay rể của nhân công hay của người phối ngẩu
  • bất cứ thân nhân phụ thuộc vào nhân công để chăm sóc

Những người thân cần được chăm sóc không nhất thiết phải sống ở Ontario để nhân công   đủ điều kiện được nghỉ phép này.

8 tuần nghỉ việc chăm sóc gia đình không nhất thiết phải được thực hiện cùng một lúc và nhân công có thể chia ra để nghĩ.  nhưng thời gian nghĩ sẽ được tính theo đơn vị tuần, do đó nếu thời gian nghĩ không tròn một tuần sẽ được tính trọn tuần.

Nhân công phải cố gắng báo trước bằng văn bản cho chủ khi có thể để xin nghỉ phép và cung cấp lịch trình nghỉ,  nhưng đây không phải là yêu cầu tuyệt đối.  nhân công sẽ không bị  mất quyền nghĩ phép chăm sóc gia đình nếu không kịp thời thông báo.

Phép Nghĩ Chăm con vị thành niên và thân nhân có trọng bệnh

Tất cả nhân công làm việc cho chủ hơn 6 tháng sẽ được hưỡng 37 tuần không lương để chăm sóc con phụ thuộc dưới 18 tuối có trọng bệnh và 17 tuần không lương để chăm sóc thân nhân trưởng thành trên 18 tuổi có trọng bệnh  trong danh sách chỉ định trong khoản thời gian 52 tuần từ ngày thân nhân bị bệnh.

thân nhân chỉ định bao gồm:

  • “con” là bao gồm con ruột, con nuôi, con ghẻ dưới 18 tuổi hoặc có quyền  giám hộ hợp pháp cho một đứa trẻ dưới 18 tuổi.
  • thân nhân trưởng thành trên 18 tuổi trở lên là:
    • vợ hay chồng hôn phối hoặc sống chung trên một năm của nhân công, đồng tính hay khác tính
    • ông bà ruột hay ghẻ, cha mẹ ruột hay ghẻ và nuôi của nhân công hay của người phối ngẩu,
    • con ruột, con nuôi, con ghẻ của nhân công hay của người phối ngẩu
    • cháu nội ngoại ruột hay ghẻ, cháu trai hay gái của nhân công  hay của người phối ngẩu
    • anh chị em ruột hay ghẻ, dâu hay rể của nhân công hay của người phối ngẩu
    • người được nhân công xem như thân nhân phụ thuộc vào nhân công để chăm sóc

Những người thân cần được chăm sóc không nhất thiết phải sống ở Ontario để nhân công  đủ điều kiện được nghỉ phép này.

“Trọng bệnh“phải là bệnh nặng hay trong  tình trạng sức khoẻ nguy kịch hay chấn thương nặng nhưng không bao gồm các bệnh mản tính.

Nhân công xin nghĩ phép cố gắng  báo trước cho chủ bằng văn bản và cung cấp lịch trình nghĩ.  Phép nghĩ 37 hay 17 tuần có thể chia ra để nghỉ mà không nhất thiết phải nghĩ liên tục một lần.  nhưng phép nghĩ sẽ tính theo đơn vị tuần cho dù không nghĩ tròn một tuần.

Nhân công có quyền thay đổi lịch trình nghĩ  không giới hạn nhưng phải báo trước hợp lý cho chủ  để sắp xếp cho sự thay đổi.

Phép nghỉ hiến tặng nội tạng

Nhân công đã làm cho chủ ít nhất 13 tuần có thể nghĩ 13 tuần phép không lương để chuẩn bị  cho phẩu thuật hiến tặng nội tạng.  Trong một số trường hợp, số tuần này có thể gia hạn đến tối đa là 26 tuần.

Phép Nghĩ để thi hành nghĩa vụ

Nhân công đã làm việc cho chủ ít nhất 6 tháng và là thành viên dự bị làm nghĩa vụ cứu hộ nhân đạo cho thiên tai hay thảm họa khẩn cấp ở Canada hay quốc tế có thể xin nghĩ không lương cho thời gian cần thiết để thi hành nghĩa vụ bao gồm.  Nhân công phải xin phép bằng văn bản trước cho chủ và cung cấp lịch trình xin nghĩ.

Không giống như các loại phép nghĩ  khác, chủ  lao động có quyền hoãn thêm 2 tuần hay thời gian một kỳ lương (thời gian muộn nhất của một trong hai ngày này)  khi  nhân công kết thúc nghĩ phép trở lại làm việc.  Đồng thời chủ có thể tạm ngưng tất phúc lợi của công ty cho nhân công trong thời gian nghỉ phép. Tuy nhiên, nếu chủ lao động hoãn ngày nhân công có thể phục hồi  đi làm lại, thì chủ lao động phải trả cho nhân công phần tiền bảo hiểm phúc lợi mà chủ phụ trách đóng liên quan đến công việc họ  làm,  đồng thời phải phục hồi các phúc lợi của nhân công ngược từ ngày họ có thể trở lại đi làm.

Phép nghĩ vì con tử vong

Nhân công phải làm việc cho chủ tối thiểu 6 tháng liên tiếp có con nhỏ tử vong được phép nghĩ giữ việc không lương.  Phép nghĩ con tử vong tối đa là 104 tuần liên quan đến cái chết của con của nhân công trong khoảng thời gian 105 tuần bắt đầu từ  tuần đứa trẻ chết.

” Con” có nghĩa là con ruột , con ghẻ hoặc con nuôi dưới 18 tuổi. Tổng số 104 tuần nghĩ có thể chia  sẽ giữa các nhân viên khác nhau để nghĩ cho cùng một cái chết.  Phép nghỉ phải được thực hiện liên tục một lần duy nhất đến kết thúc mà không được ngắt đoạn.

Nhân công sẽ mất quyền nghĩ phép này  nếu đứa trẻ chết vì tội ác và nhân công bị buộc tội  sát hại hay cái chết của đứa trẻ có liên quan đến tội phạm của nhân công.

Nhân công phải báo trước và cung cấp cho chủ bằng văn bản lịch trình nghĩ phép nhưng không phải là yêu cầu tuyệt đối để xin nghĩ và sẽ không mất quyền nghỉ phép nếu không báo trước.

Phép nghĩ vì con bị mất tích liên quan đến tội phạm trẻ em

Nhân công phải làm việc cho chủ tối thiểu 6 tháng liên tiếp có con nhỏ tử vong được phép nghĩ giữ việc không lương.  Phép nghĩ vì con bị mất tích tối đa là 104 tuần  trong khoảng thời gian 105 tuần bắt đầu từ tuần đứa trẻ biến mất.

” Con” có nghĩa là con ruột , con ghẻ hoặc con nuôi dưới 18 tuổi.

Tổng số 104 tuần nghĩ có thể chia  sẽ giữa các nhân viên khác nhau để nghĩ cho cùng một sự cố. Nhân công sẽ mất quyền nghĩ phép này nếu bị buộc tội liên quan đến sự mất tích của đứa trẻ hay sự mất tích của đứa trẻ có liên quan đến tội phạm của nhân công.

Nếu trong lúc nhân công đang nghĩ phép này và đứa trẻ được tìm thấy sống sót trong khoảng thời gian 104 tuần từ ngày mất tích,  thì nhân công có quyền được nghỉ phép thêm 14 ngày từ ngày đứa trẻ được tìm thấy còn sống.

Nếu đứa trẻ được tìm thấy đã chết trong 104 tuần phép nghĩ cho con bị mất tích, thì phép nghĩ kết thúc từ ngày cuối của tuần tìm được  đứa trẻ,  nhân công có thể tiếp tục chuyển sang  nghỉ 104 tuần phép nghĩ cho tử vong tính từ ngày đứa trẻ tử vong.

Chủ có thể yêu cầu nhân công xin nghỉ phép mất tích liên quan đến tội phạm cung cấp bằng chứng hợp lý chứng minh họ đủ tiêu chuần được nghĩ.

Nhân viên tạm bỏ việc vì con mất tích hay chết vì tội phạm có thể đủ điều kiện nhận  tiền hỗ trợ thu nhập liên bang cho cha mẹ có con bị giết hoặc bị mất tích. Để biết thông tin về khoản tài trợ này, hãy truy cập trang web của Dịch vụ Canada hay liên hệ với họ theo số 1-800-622-6232.

8. thông báo và bồi thường nghĩ việc

Trong những trường hợp bị cho nghĩ việc như:

  • công ty đóng cửa, phá sản, hoặc không đủ việc, hoặc
  • nhân viên quyết định thôi việc trong thời gian nhận thông báo sa thải
  • bị ép từ chức (constructive dismissal) trong những trường hợp như chủ quyết định thay đổi lớn về điều kiện nhân dụng như giảm tiền lương, thay đổi về giờ giấc làm việc, chức vụ hoặc trách nhiệm, hoặc bị chèn ép, quấy nhiểu v.v. làm cho nhân công phải từ chức.  Những trường hợp này khá phức tạp, bạn nên tham khảo ý kiến pháp luật của Bộ Lao Động hoặc các cơ quan pháp trợ cộng đồng để được giúp đở
  • thời gìan bị cho nghĩ việc tạm đã quá hạn thời gian pháp định

Chủ không cần phải đưa lý do cho nghĩ việc nhưng không được sa thải nhân công vì họ tranh giành quyền lợi pháp định của mình trong luật Tiêu Chuẩn Lao Động.  Nếu nhân công đã làm việc cho chủ hơn 3 tháng rồi bị chủ cho nghĩ, chủ phải thông báo trước khi cho nghĩ việc hoặc phải trả tiền bồi thường thay cho thông báo nghĩ việc.  Thời gian thông báo cho nghĩ việc sẽ tính theo thâm niên nhân công  đã làm việc cho chủ.  Chủ có quyền chọn phương án đưa thông báo hoặc trả tiền bồi thường thay cho thời gian thông báo. chủ cũng có thể dùng cả hai phương án để chia ra một số tuần đưa thông báo và một số tuần được trả tiền thay cho thông báo. Tiền bồi thường thay cho thông báo phải được thanh toán chậm nhất là trong vòng 7 ngày từ ngày sa thải hoặc trong kỳ lương cuối cùng.

Tiền lương tuần bồi thường cho nghĩ việc thay cho thông báo tương đương với tiền lương thường của một tuần không bao gồm tiền phụ trội, tiền lương ngày lễ công cộng, phép nghĩ thường niên, tiền thưởng, tiền bồi thường sa thải và nghĩ việc.  Trong trường hợp  tiền lương hàng tuần không ổn định  thì sẽ dùng tổng số lương bình thường của 12 tuần cuối để bình quân cho số lương một tuần.  Chủ còn phải trả thêm 4% hay 6 % ( tùy trường hợp)  tiền phép thường niên trên tổng số tiền bồi thường thay cho thông báo này.  Chủ cũng không được ép buộc nhân công nghĩ phép thường niên trong thời gian thông báo để giảm số tiền bồi thường.

Thời gian thông báo pháp định là

 

thời gian đã làm việc cho chủ thời gian thông báo
dưới 3 tháng không cần thông báo
từ 3 tháng đến 1 năm 1 tuần
1 năm đến 3 năm 2 tuần
3 năm đến 4 3 tuần
4 năm đến 5 4 tuần
5 năm đến 6 năm 5 tuần
6 năm đến 7 năm 6 tuần
7 năm đến 8 năm 7 tuần
Trên 8 năm 8 tuần

a) Sa Thải Tập Thể

Trong nơi làm việc có trên 50 nhân công, nếu hơn 50 nhân viên bị sa thải vĩnh viển trong 4 tuần, thì họ sẽ được thông báo dài hơn hoặc trả tiền bồi thường thay cho thông báo nghĩ việc nhiều hơn mức qui định trên.  Người chủ  lao động phải nộp mẫu 1 cho Bộ Lao Động khi sa thải hàng loạt và đăng bản sao của mẫu 1 hiển thị tại nơi làm việc vào ngày đầu tiên thông báo sa thải có hiệu lực . Thời gian thông báo được xác định bởi số lượng nhân viên bị sa thải và không liên quan đến thời gian làm việc của nhân viên. Thời gian thông báo cho trường hợp sa thải tập thể là:

  • từ 50 đến 199 nhân công: mỗi người sẽ được 8 tuần thông báo
  • từ 200 đến 499 nhân công: mỗi người sẽ được 12 tuần thông báo
  • 500 người trở lên: mỗi người sẽ được 16 tuần thông báo

Qui luật này sẽ không áp dụng cho trường hợp:

  • tổng số người bị sa thải trong 4 tuần chỉ là 10 phần trăm của tổng số nhân viên đã làm việc tại công ty hơn 3 tháng
  • sự sa thải không liên quan đến sự đóng cửa vỉnh viễn của một bộ phận trong công ty hay  đóng cửa vĩnh viễn của cơ sở làm việc.

b) Thời hạn cho nghĩ việc tạm thời:

chủ có quyền cho nghỉ việc tạm mà không cần thông báo trước, thời hạn tạm nghĩ có 3 loại:

  1. thường là tối đa 13 tuần trong thời hạn 20 tuần hoặc
  2. thời gian nghĩ tạm tối đa là 35 tuần trong thời hạn 52 tuần nếu trong thời gian cho nghĩ tạm mà nhân công :
  • vẩn còn tiếp tục được lảnh lương hoặc một phần lương từ chủ, hoặc
  • chủ và nhân công vẩn tiếp tục trả tiền cho các phúc lợi như y tế, hưu bổng v.v. trong thời gian tạm nghĩ, hoặc
  • chủ trả tiền bù cho sự chênh lệch về lợi tức trong thời gian nhân công đang lãnh tiền bảo hiểm công việc
  • nhân công đáng lẽ đủ tiêu chuẩn lãnh tiền bù chênh lệch nhưng không được lãnh vì có công việc làm khác, hoặc
  • chủ gọi gọi nhân công trở lại làm việc trong khung thời gian Bộ Lao Động phê duyệt
  • chủ và nhân công ký thỏa thuận nghĩ tạm và cam kết sẽ gọi nhân công trở lại làm việc trong thời hạn cam kết
  1. chủ và công đoàn ký một thỏa thuận thời hạn nghĩ tạm dài hơn và nhân công sẽ được gọi trở lại làm việc trong thời hạn cam kết

Nếu thời gian tạm nghĩ kéo dài quá thời hạn qui định nêu trên thì sẽ trở thành cho nghĩ việc vĩnh viển, do đó chủ phải trả tiền bồi thường nghĩ việc theo luật pháp qui định.

c) Quyền được triệu hồi đi làm

Đây là quyền lợi của nhân công được gọi trở lại làm việc sau khi bị cho nghĩ tạm.  Thông thường,  các công đoàn đại diện cho nhân công sẽ làm rỏ điều này và khi thiết lập các thỏa ước tập thể với chủ và đặt cam kết bảo vệ quyền được trở lại làm việc cho nhân công.  Nếu nhân công có quyền trở lại làm việc nhưng vì thời gian bị cho nghĩ việc tạm đã hơn 35 tuần mà vẩn chưa được gọi trở lại, và họ đủ tiêu chuẩn được trã tiền bồi thường thay thông báo nghĩ việc và có thể đủ điều kiện lãnh tiền bồi thường sa thải, thì họ có quyền chọn:

  • giữ quyền trở lại làm việc nên không nhận tiền bồi thường cho nghĩ việc, hoặc
  • bỏ quyền trở lại làm việc để đánh đổi được nhận khoản tiền bồi thường cho nghĩ việc

Chủ phải nộp những khoản tiền bồi thường cho nghĩ việc cho Bộ Lao Động tạm giử cho đến khi công nhân được triệu hồi đi làm hay đến thời hạn nhân công được  chọn nhận khoản tiền bồi thường.  Công đoàn đại diện cho công nhân phải tranh thủ đạt thỏa thuận đòi chủ ứng trước khoản tiền bồi thường và tạm giử số tiền này cho nhân công cho đến thời hạn quyết định.  Nếu không đạt được thỏa thuận, công đoàn phải báo cho Bộ Lao Động và chủ sẽ phải nộp khoản tiền bồi thường này cho Bộ Lao Động tạm giữ.  Số tiền này sẽ được trả cho nhân công sau khi họ đã chọn quyết định.

d) Những trường hợp bị sa thãi không cần thông báo

Những trường hợp này khá phức tạp và có nhiều tranh cải, nhân công nên tham khảo ý kiến pháp luật từ Bộ Lao Động hoặc các cơ quan pháp trợ cộng đồng để được giúp đở.

Những trường hợp bị sa thãi vì lý do sau đây sẽ không được báo trước:

  • nhân công bị đuổi việc vì hành vi xấu, mất chức, bỏ bê nhiệm vụ, phạm lổi, bất cẩn, không tuân hành chỉ thị v.v.
  • nhân công được mướn cho một thời gian chỉ định hay chỉ hoàn tất một nhiệm vụ. Tuy nhiên nhân công vẩn được quyền thông báo trước khi cho nghĩ việc nếu họ:
    • bị cho nghĩ việc sớm hơn hạn định của hợp đồng hoặc trước khi nhiệm vụ được hoàn tất hoặc
    • Thời gian làm việc đã vượt quá thời hạn quy định hoặc nếu nhiệm vụ không hoàn thành hơn 12 tháng sau khi nó được bắt đầu.
    • vẩn còn làm việc hơn 3 tháng sau khi hợp đồng đã mãn hạn hoặc nhiệm vụ đã hoàn tất xong
  • Nhân viên từ chối nhận việc thay đổi chức vụ hợp lý mà chủ đề nghị
  • Nhân viên từ chối thực hiện quyền của mình đối với một vị trí khác có sẵn trong một hệ thống thâm niên.
  • Nhân viên được tuyển dụng trong nghành xây dựng.
  • Nhân viên đóng, thay đổi hoặc sửa chữa một số loại tàu
  • Nhân viên đang bị cho nghỉ việc tạm thời
  • Nhân viên không trở lại làm việc trong một khoảng thời gian hợp lý sau khi bị triệu hồi đi làm sau khi cho nghỉ việc tạm thời.
  • Nhân viên bị mất việc do đình công hoặc bị phong tỏa gây ra
  • không thể tiếp tục làm việc vì công ty ngưng hoạt đông do những lý do tai nạn ngoài ý muốn như hoả hoạn, ngập lụt v.v. (không bao gồm các lý do như phá sản hoặc quản lý tồi tệ) gây ra

9. bồi thường sa thải

Nhân công bị sa thải hội đủ điều kiện sau đây sẽ được lãnh thêm tiền bồi thường sa thải:

  • Đã làm việc hơn 5 năm cho chủ, và
  • làm cho một công ty có tổng số tiền chi cho lương bổng hàng năm của nhân công là 2 triệu rưởi hoặc công ty đã sa thãi hơn 50 nhân viên trong vòng 6 tháng

Tiền bồi thường sa thải sẽ căn cứ vào thời gian đã làm việc cho chủ.  Mỗi năm sẽ được bồi thường một tuần lương bình thường không tính tiền phụ trội đến mức tối đa là 26 tuần. Nếu nhân công quyết định từ chức sau khi nhận được thông báo cho nghĩ việc, và đã hội đủ điều kiện trên thì vẩn có quyền lãnh tiền bồi thường sa thải nhưng phải báo trước cho chủ  2 tuần trong thời hạn thông báo.  chủ phải thanh toán tiền này muộn nhất là 7 ngày hay trong kỳ lương sau.

10. Công Ty Nhân Dụn

Nếu nhân công tìm được việc qua trung gian của công ty nhân dụng và tiền lương do công ty nhân dụng trả, thì công ty nhân dụng là chủ.  Nhưng nếu công nhân thông qua công ty nhân dụng môi giới tìm được việc và chủ lao động nơi đó trực tiếp trả tiền lương, thì nơi đó là chủ.

Sau khi nhân công được tuyển dụng,Công ty nhân dụng phải cung cấp bản thông tin bằng văn bản cho nhân công về thông tin tổng quát về luật tiêu Chuẩn Lao Động có tên là: “tiêu chuẩn việc làm của bạn khi làm việc cho công ty nhân dụng trung gian và chủ phân công” ,  đồng thời cũng phải có bản thông tin về tên và thông tin liên lạc của nơi phân công làm việc,  mô tả chung về công việc, tiền lương, giờ làm việc, thời gian trả lương và ngày trả lương.

Công ty nhân dụng cấm không được thu chi phí giúp tìm việc làm hoặc để được giao việc hay để được chủ mướn. Nếu bị thu chi phí, quý vị có thể thưa đến Bộ Lao Động để đòi lại.

Sự kết thúc của một công việc được giao phó không có nghĩa là quan hệ lao động giữa nhân công và công ty nhân dụng chấm dứt . Mối quan hệ nhân dụng chỉ kết thúc khi nhân công thôi việc hoặc do công ty nhân dụng thông báo cho nghỉ việc vĩnh viễn hay thời gian cho nghĩ việc tạm hết hạn theo luật. Công ty nhân dụng được xem là chủ phải tuân thủ tất cả qui chế bảo vệ quyền lợi của nhân công theo luật và phải đưa thông báo cho nghĩ việc hay trả tiền thay vì cho thông báo nghĩ việc.

Công ty nhân dụng và nơi sử dụng lao động đều có đồng trách nhiệm phải thanh toán lương thiếu, nhân công bị chủ là công ty nhân dụng thiếu lương có quyền đòi lương từ cả hai cơ quan sử dụng lao động và công ty nhân dụng. Do đó, khi nhân công khiếu nại thiếu lương đến bộ Lao Động, Bộ có thể đòi lương từ một trong hai.

11. Công Nhân Nghành Bán Lẻ

quyền từ chối làm ngày chủ nhật

Có hai qui định về quyền của nhân công trong nghành bán lẻ để từ chối làm việc vào ngày chủ nhật.
Những nhân công trong nghành bán lẻ được chủ tuyển dụng  trước ngày 04 tháng 09 năm 2001 đều có quyền từ chối làm việc vào ngày chủ nhật.  Ngay cả khi đã ký một thỏa thuận đồng ý làm ngày Chủ nhật cũng có quyền thông báo cho chủ trước 48 giờ để từ chối làm việc ngày chủ nhật.

Những nhân công trong nghành bán lẻ được chủ tuyển dụng trong hay sau ngày 4 tháng 9 năm 2001 không có quyền từ chối làm việc ngày chủ nhật trừ khi có ký thỏa thuận không làm việc vào ngày Chủ nhật lúc được tuyển dụng.  Họ chỉ có thể từ chối làm việc vào Chủ nhật trong một số trường hợp ngoại lệ như  lý do tín ngưỡng hoặc chấp hành nghi lể tôn giáo (trong trường hợp này thì nhân công phải báo trước ít nhất  48 tiếng cho trước khi bắt đầu công việc vào Chủ nhật).

Nên lưu ý rằng nếu ngày chủ nhật rơi vào ngày  lễ công cộng, nhân công có thể từ chối làm việc vào ngày đó, ngay cả khi họ đã đồng ý tại thời điểm tuyển dụng đi làm ngày Chủ nhật. (quyền từ chối này được xem là quyến từ chối đi làm trong ngày lễ mà không phải vì đó là ngày chủ nhật.)

Nhân viên có thỏa thuận bằng  điện tử hoặc bằng văn bản tại thời điểm tuyển dụng không làm việc ngày chủ nhật cũng có thể vào một lúc nào đó đối ý làm ngày chủ nhật hay một ngày chủ nhật cụ thể nào đó rồi và có quyền thay đổi quyết định không làm chủ nhật nữa nhưng phải thông báo ít nhất 48 giờ cho chủ.

12. Người làm việc chăm sóc nội trú

Những người Lao động nước ngoài đến làm công việc chăm sóc nội trú được bảo vệ theo luật Tiêu chuẩn Lao Động  ở Ontario và Luật Tuyển Dụng Lao Động Người Ngoại Quốc – Employment Protection for Foreign Nationals Act  (EPFNA) , Cả hai luật đều được chấp  hành bởi Bộ Lao động.

Chủ phải cung cấp bản thông tin cơ bản về Luật Tiêu Chuẩn  Lao Động và EPFNA  trong ngôn ngữ của nhân công trong vòng 30 ngày sau khi bắt đầu làm việc.  Không ai có quyền từ bỏ quyền lợi pháp định của họ.   Theo Luật Tuyển Dụng Lao Động Người Ngoại Quốc, công ty môi giới không được quyền trừ lương, giữ lương, cấn lương hay ăn chận tiền lương thu phí hay giữ giấy tờ tùy thân của nhân công ngoại quốc.

Giờ làm việc của nhân công chăm sóc nội trú là 8 giờ một ngày và không quá 48 giờ một tuần. Nếu phải làm hơn 48 giờ, chủ phải có văn bản thỏa thuận với nhân công và được sự chấp thuận của Bộ Lao động.

Nhân công làm việc chăm sóc nội trú phải được nghĩ ít nhất 11 giờ liên tục mỗi ngày và 24 giờ nghĩ liên tục mỗi tuần, hoặc 48 giờ nghỉ mỗi hai tuần. Họ cũng được trả lương phụ trội sau khi làm hơn 44 giờ một tuần.

Chủ có thể khấu trừ khoản tiền ăn và ở nội trú nhưng vẩn phải bảo đảm đạt được mức lương tối thiểu.  Nơi ở cung cấp phải thích hợp cho người cư trú và phải có một số đồ đạc cơ bản. Giá tiền ăn ở pháp định là:

  • Tiền ở cho phòng riêng cho một tuần:  $31.70
  • mỗi bữa ăn $2.55, tối đa một tuần $53.55
  • Tiền ăn ở một tuần là $85.25

Để biết thêm chi tiết, xin gọi Bộ Lao Động số 1-800-531-5551 hoặc 416 326-7160 hoặc đường dây nóng cho nhân viên chăm sóc nội trú 1-866-372-3247.

13. Người Lao Động Nước Ngoài

Bắt đầu từ ngày 20 tháng 11 năm 2015, tất cả các lao động nước ngoài nhập cư theo chương trình lao động nước ngoài tạm thời sẽ được bảo vệ dưới Luật Tuyển Dụng Lao Động Người Ngoại Quốc-EPFNA, họ sẽ được luật lao động pháp bảo vệ như tất cả dân bản xứ.  chủ không thể tùy tiện trừ lương, giữ hay cấn lương, thu phí và giữ tài sản cá nhân hay giấy tờ tùy thân của nhân công.  Nhân công có thể khiếu nại đến Bộ Lao Động nếu chủ phạm luật.

14. Đòi hỏi Yết thị và cung cấp thông tin

chủ có trách nhiệm phải cung cấp thông tin về luật Tiêu Chuẩn Lao Động cho tất cả các nhân viên của họ, nhân viên mới sẽ nhận bản thông tin này trong vòng 30 ngày bắt đầu làm việc.  Thông tin có thể cung cấp với dạng tài liệu in, gửi kèm nhu liệu trong thư tín, yết thị bích chương ở nơi hiển thị tại nơi làm việc.  thông tin có thể cung cấp theo nhu cầu ngôn ngữ của nhân viên.  Bộ Lao Động phát hành  bản dịch các ngôn ngữ có sẵn, ngoài các phiên bản tiếng Anh.

Thực thi quyền lợi theo luật Tiêu Chuẩn Lao Động

1.  Kiện đến Bộ Lao Động

Bộ Lao Động (Ministry of Labour-Employment Standars Branch) có trách nhiệm giải quyết đơn kiện về vi phạm Luật Tiêu Chuẩn Tuyển Dụng của nhân công. Thủ tục kiện đến Bộ Lao Động đơn giản và miễn phí.

Thời hạn kiện đến Bộ Lao Động đòi tiền lương là trong vòng 2 năm từ ngày vi phạm xảy ra.

Thời hạn khiếu nại này có thể gia hạn trong trường hợp:

  • Nhân công phát hiện mình có những phúc lợi mà chủ cố tình giấu không cho họ biết hay cung cấp thông tin sai về quyền lợi của ; hoặc và
  • Do sự dối trá của chủ là nguyên nhân gây cho nhân công chậm trễ khi xin khiếu nại.

nhân viên Bộ Lao Động có quyền ra lệnh đòi bất cứ món tiền lương thiếu nhân công.

Bộ Lao Động sẽ không nhận đơn kiện trong hai trường hợp sau đây:

  • nhân công là thành viên của công đoàn nơi mình làm việc, do đó công đoàn có trách nhiệm đại diện cho nhân công trên luật pháp để giải quyết tranh chấp với chủ
  • nhân công đã xúc tiến thủ tục pháp lý kiện tụng dân sự cho cùng một vấn đề

Khi kiện đến Bộ Lao Động, đương sự phải điền đơn kiện của Bộ Lao Động trên mạng trực tuyến ở mạng chỉ: http://www.labour.gov.on.ca/english/es/forms/claim.php

Sau khi hoàn thành, người nộp đơn phải nộp nó theo một trong các cách sau:

Provincial Claim Centre
Ministry of Labour
70 Foster Drive, Suite 410
Roberta Bondar Place
Sault Ste. Marie, ON P6A 6V4

Sau khi nhận được đơn, Bộ Lao Động sẽ tiến hành điều tra.  Thông thường, Bộ có thể liên lạc hai bên đương sự và chủ yêu cầu một số tài liệu nhất định hoặc tiến hành điều tra nơi làm việc. Bộ cũng có thể yêu cầu nhân viên cung cấp các tài liệu như bản sao cùi lương,  T4 khai thuế, kẻ lục nhân dụng-ROE.

Nhân viên Bộ Lao Đông sẽ mời hai bên đến dự cuộc điều trần (fact finding meeting), mỗi bên đều có quyền được mang theo giấy tờ liên quan, chứng cớ, lý lẽ để trình bày cho mình trong cuộc điều trần.  Hai bên đều có quyền tự mang theo đại diện và thông dịch.

Sau cuộc điều trần, viên chức Bộ Lao Động có thể làm quyết định ngay đó hoặc hoản lại quyết định chờ nhận thêm tài liệu đòi hỏi và gửi quyết định sau.  Quyết định sẽ ghi rỏ phần thắng thuộc bên nào và lý do tại sao.  Cho ví dụ như vấn đề tranh chấp là vì thiếu tiền lương, và nhân công thắng kiện, viên chức Bộ Lao Động sẽ cấp ra lệnh đòi chủ trả khoản tiền thiếu cho nhân công.

Cả hai bên đều có quyền khiếu nại lệnh này trong vòng 30 ngày từ ngày nhận quyết định.  Đơn khiếu nại sẽ được xử lý ở  Ban Quan Hệ Lao Động Ontario (Ontario Labour Relations Board).  Nơi đây sẽ xúc tiến cuộc họp hòa giải với các bên. Nếu vấn đề không được giải quyết hoặc chưa có một nỗ lực hòa giải sẽ đưa đến một buổi điều trần.  Đây là nơi quyết định cuối cùng và ràng buộc trong hệ thống hành chánh của bộ Lao Động.   Mổi bên vẩn có thể tiếp tục kháng cáo đến tòa án tư pháp

2. Kiện tụng dân sự

Ngoài cách kiện đến Bộ Lao Động nêu trên, nhân công còn có quyền chọn không kiện đến Bộ Lao Động mà kiện đến toà dân sự về những vấn đề tranh chấp giửa nhân công và chủ.  Phạm vi của tòa án sẽ rộng hơn Bộ Lao Động, cho ví dụ như Bộ Lao Động không xử lý những đòi hỏi về bồi thường thiệt hại vì sa thải vô cớ gây ra, thường là trong những chức vụ chuyên môn, đương sự chọn kiện tụng dân sự để đòi mức bồi thường cao hơn mức tối thiểu qui định trong Luật Tiêu Chuẩn Lao Động.

Nếu số tiền tranh tụng dưới $35,000, nhân công có thể tự đến Toà Kiện Tụng Việc Nhỏ (Small Claim Court) để thưa kiện.

Nếu số tiền tranh tụng trên $35,000, nhân công phải thưa kiên đến Toà Thượng Thẩm Ontario (Ontario Superior Court), thủ tục rất phức tạp nên cần mướn luật sư xúc tiến thủ tục thưa kiện.

Trách nhiệm và quyền lực của Bộ Lao Động

Bộ Lao Động có trách nhiệm chấp hành Luật Tiêu Chuẩn Lao Động .  Nếu họ nhận được đơn kiện chủ phạm luật, sau khi điều tra xong thì Bộ Lao Động sẽ ra lệnh buộc chủ phải tuân hành luật pháp và trả tiền.  Bộ Lao Động có quyền cấp các trát tòa như:

  1. Lệnh trả tiền lương (order to pay wages)

Trong trường hợp chủ không tuân hành quyết định của Bộ Lao Động trả tiền lương, Bộ Lao Động sẽ cấp trát lệnh cho chủ phải trả tiền lương và tiền phạt là $100 hoặc10% tổng số tiền thiếu (mức cao nhất của một trong hai).

  1. Lệnh tuân hành (compliance order)

Nếu, ví dụ, viên chức Bộ Lao Động phát hiện ra chủ không cho nhân công nghĩ giải lao 30 phút để ăn sau 5 giờ làm việc liên tục. Bộ Lao Động sẽ cấp trát lệnh qui định chủ phải tuân hành pháp luật cho phép nhân công nghĩ giờ giải lao.

  1. Lệnh phạt vi phạm (notice of contravention)

Bộ Lao Động có thể cấp thông báo vi phạm với tiền phạt nếu chủ vi phạm điều lệ của Luật Tiêu Chuẩn  Lao Động.

Nếu chủ không tuân theo qui định để giữ sổ sách về lương bổng hoặc không dán yết thị bích chương liệt ra quyền lợi pháp định của nhân công, thì viên chức có quyền phạt chủ, họ sẽ đưa thông báo vi phạm với mức tiền phạt là:

  • $250 cho vi phạm lần đầu
  • $500 cho lần vi phạm thứ hai trong vòng 3 năm
  • $1,000 cho lần vi phạm thứ ba trong vòng 3 năm

Nhưng nếu chủ vi phạm các qui định khác về quyền lợi của nhân công, thì tiền phạt sẽ là:

  • $250 cho vi phạm lần đầu nhân cho số lượng nhân công bị ảnh hưởng
  • $500 cho lần vi phạm thứ hai trong vòng 3 năm nhân cho số lượng nhân công bị ảnh hưởng
  • $1,000 cho lần vi phạm thứ ba trong vòng 3 năm nhân cho số lượng nhân công bị ảnh hưởng

Cho ví dụ như trường hợp trên, chủ phạm luật vì không cho 5 nhân công nghĩ giải lao để ăn uống, Bộ Lao Động đã cấp trát lệnh qui định chủ phải tuân hành pháp luật cho mỗi nhân công được 30 phút nghĩ giải lao, 6 tuần sau Bộ Lao Động phát hiện chủ không có tuân hành trát lệnh, thì Bộ Lao Động sẽ cấp trát lệnh phạt là $250 nhân cho 5 người nhân công bị ảnh hưởng, tổng số tiền phạt sẽ là $1250 và cảnh cáo chủ nếu tái phạm sẽ bị trừng phạt nặng hơn.

  1. Lệnh bồi thường hoặc phải tái thuê

nếu chủ vi phạm luật vì:

  • ngăn cản nhân công các phép nghĩ phpá định bao gồm nghĩ phép sanh, phép cha mẹ hoặc phép nghĩ y tế gia đình .v.v
  • ép nhân viên phải đồng ý làm trắc nghiệm gian dối
  • buộc nhân công trong ngành bán lẻ phải làm việc ngày chủ nhật
  • trừng phạt nhân công vì họ tranh đấu cho quyền lợi của mình

Bộ Lao Động có thể cấp lệnh bắt chủ bồi thường cho nhân viên hoặc ép buộc chủ phải mướn nhân viên bị sa thải hoặc cấp lệnh cho cả hai loại.  Không có giới hạn cho mức tiền bồi thường tối đa.

Nơi đâu có thể được giúp đỡ?

Để được tư vấn pháp lý và đại diện, bạn có thể liên hệ với một luật sư hoặc một trung tâm pháp trợ cộng đồng gần nhà.  Bạn có thể gọi điện cho Legal Aid Ontario, số điện thoại viễn liên miễn phí ngoài vùng Toronto là 1-800-668-8258, ở Toronto, gọi 416-979-1446 hoặc mạng chỉ www.legalaid.on.ca.

Những cơ quan cung cấp dịch vụ cho cộng đồng Việt Nam

Hội Người Việt Toronto

Văn phòng chính: 1364 Dundas West, Toronto, Ontario, điện thoại: 416-536-3611
Văn phòng chi nhánh:3585 Keele Street, Unit 13,Northyork,Ontario, điện thoại: 416-636-8887

Hội Phụ Nữ Việt Nam Toronto

1756 St.Clair Avenue,Toronto,Ontario,điện thoại: 416-539-0152

SEAS Centre

606 Gerrard Street East,Toronto,Ontario M4A 1Y3, điện thoại: 416-466-8842

Northwood Neighbourhood Services

2625 D Weston Rd, 2nd Fl, Unit 27,Toronto,ON,M9N 3V8, điện thoại: 416-748-0788, ext 31

Trung Tâm Hướng Dẩn Luật Pháp Hoa-Việt-Khmer-Lào

180DundasWest, phòng 1701,Toronto,Ontario M5G 1Z8, điện thoại: 416-971-9674

The Lighthouse Community Centre

1008 Bathurst Street,Toronto,Ontario, điện thoại: 416-535-6262 ext 225

Woodgreen Community Centre

815 Danforth Ave. Suite 300,Toronto,ON M4J 1L2, điện thoại: 416-645-6000 ext 2165

Tài liệu này chỉ cung cấp thông tin tổng quát.  Mổi trường hợp đều khác nhau và luật pháp có thể thay đổi.  Nếu quý vị có vấn đề luật pháp, xin tư vấn với luật sư hay liên lạc với trung tâm pháp trợ cộng đồng trong khu vực để được giúp đở. 

 

Enter your keyword